Lễ hội Gióng

Dân gian Việt Nam có câu:

“Lâm râm hội khám, u ám hội Dâu,

vỡ đầu hội Gióng”

Và:

“Ai ơi mùng chín tháng Tư

Không đi hội Gióng cũng hư mất đời”,

“Mùng bảy hội Khám, mùng tám hội Dâu

Mùng chín đâu đâu trở về hội Gióng”

Hội Gióng được tổ chức ở làng Gióng, thuộc xã Phù Đổng, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội. Đây là làng quê của Thánh Gióng – nhân vật huyền thoại, kì vĩ của kho tàng Folklore Việt Nam.

Tương truyền vào đời Hùng Vương thứ 6, nước Văn Lang (một quốc gia cổ của người Việt Nam) bị giặc Ân (Trung Quốc) xâm lăng. Vua Hùng cử sứ giả đi kêu gọi các làng, xóm cử người tài cứu nước. Thuở ấy, ở làng Gióng có một người đàn bà chưa chồng, trong lúc đi hái cà thấy trong vườn có vết chân khổng lồ bèn ướm thử vào, thế rồi có thai. Đầy tháng, bà sinh được một cậu con trai. Cậu bé chỉ nằm một chỗ, lên 3 tuổi vẫn chưa nói được. Đến khi sứ giả đi rao gọi anh tài cứu nước, cậu bé bật dậy nói với mẹ mời sứ giả vào. Khi sứ giả đến, cậu bé yêu cầu sứ giả về tâu với nhà vua chuẩn bị cho một ngựa sắt, một roi sắt để đi đánh dẹp quân giặc. Sứ giả bèn trở về chiều đình. Từ hôm đó, cầu Gióng ăn uống khỏe kỳ lạ. Bà mẹ không nuôi nổi con, nhờ bà con trong làng cùng các vùng xung quanh gánh gạo, gánh cà đến góp nuôi Gióng. Khi sứ giả quay lại, đem theo ngựa sắt, roi sắt, nón sắt đúng như yêu cầu của Gióng, chú bé vươn vai thành người khổng lồ, rồi đội

Thánh Gióng bay về trời sau khi đánh tan giặc Ân
Thánh Gióng bay về trời sau khi đánh tan giặc Ân

nón, cầm roi, thét một tiếng nhảy lên lưng ngựa sắt. Ngựa liền hí vang phóng về phía quân giặc. Chàng trai dùng roi sắt đánh quân giặc tan tác. Đang hăng hái chiến đấu thì roi sắt bị gãy, chàng bèn nhổ tre ở bên đường làm vũ khí đánh giặc, chàng Gióng quay ngựa phi thẳng lên núi Sóc Sơn (thuộc huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội), cởi áo giáp khoác vào cây trầm, ngoảnh mặt trông về quê mẹ, rồi cả người và ngựa cùng bay lên trời xanh.

Từ bao đời nay, hàng năm dân làng Gióng mở hội để ôn lại chiên tích năm xưa của người anh hùng làng Gióng – một trong “tứ bất tử” của tín ngưỡng dân gian Việt Nam. Đây là một trong những lễ hội lớn nhất ở đồng bằng Bắc Bộ.

Có ý kiến cho rằng việc tổ chức hội Gióng như ngày nay được bắt đầu từ khoảng thế kỷ  XI, đời vua lý Thái Tổ. Theo đó, trước khi sáng lập ra chiều Lý, Lý Công Uẩn sống ở chùa Kiến Sơ, gần đền Phù Đổng, thường đến đây dâng hương cầu xin thần linh cho biết vận mệnh đất nước. Sau khi lên ngôi vua, Lý Thái Tổ đã cho tôn tạo, mở rộng đền Phù Đổng và quy định thể thức tổ chức lễ hội.

Ngựa cửa Thánh Gióng
Ngựa cửa Thánh Gióng

Hội Gióng được tổ chức theo kịch bản truyền thống, được chuẩn bị dàn dựng công phu với sự tham gia của đông đảo nhân dân. Lễ hội chính thức diễn ra từ ngày mùng 6 đến 12 tháng 4 âm lịch (có năm lễ hội rút ngắn, tổ chức từ mùng 6 đến mùng 10 tháng 4 âm lịch).Tuy nhiên, các công việc chuẩn bị cho lễ hội đã được bắt đầu từ mùng 1 tháng 3 âm lịch. Trung tâm của lễ hội là nghi thức tái hiện lại chiến công của thánh Gióng đánh thắng giặc Ân theo truyền thuyết.

Tham gia hội Gióng có 5 làng là Phù Đổng, Phù Dực, Đổng Viên ở bờ bắc sông Đuống, Đổng Xuyên, Hội Xá ở bờ nam sông Đuống. Theo truyền thống, hai làng Phù Đổng và Phù Dực luân phiên nhau giữ vai trò chủ hội, cử ông “Hiệu cờ” (tượng trưng cho thánh Gióng khi xung trận) và các tướng của đội quân Văn Lang. Hai làng Đổng Viên, Đổng Xuyên cử người đóng vai đội quân lương, làng Hội Xá góp phần múa Ải Lao và diễn trò bắt hổ.

Ngoài ra, làng Đổng Viên và Đổng Xuyên còn cử ra đội quân thám sát và vận lương gồm 30 người, có người chỉ huy.

Bắt đầu từ ngày mùng 1 tháng 3 âm lịch, hội đồng hàng giáp họp để dự lễ dâng trầu lên Thánh Gióng ở đền Thượng do giáp hội trưởng tổ chức và nhận sổ hội lệ, là quyển sổ ghi cách thức tiến hành hội theo quy định từ xưa. Ngày mùng 2 tháng 3 âm lịch, hội đồng làng giáp họp để phổ biến công việc và phân công.

Ngày mùng 5 tháng 3 âm lịch, giáp hội trưởng rước bình hương lễ lên đình để các tướng (tức các ông Hiệu) làm lễ trình diện và nhận cờ, trống, chiêng về nhà luyện tập thao diễn. Lá cờ dùng để tập là lá cờ của năm trước được bảo quản ở trong đền. Mỗi năm, đến ngày hội, giáp hội trưởng lại sắm lá cờ mới. Cờ bằng lụa nhuộm màu đỏ vàng, bề rộng là 0,35m, bà dài là 7 vuông (7×0,35=2,15m).

Cùng với binh lính chính quy là những đội quân quần chúng, gồm đội Thám Báo, đội quân lương; Làng áo đỏ tượng trưng cho đội quân thiếu niên; Làng áo đen tượng trưng cho đội quân nông dân.

Đội quân giặc Ân trong lễ hội chỉ gồm 28 tướng giặc, gọi là cô tướng. Đóng vai tướng giặc là các cô gái từ 10 – 13 tuổi được chọn từ bốn làng Phù Đổng, Đổng Viên, Đổng Xuyên, Phù Dực.

Trong số 28 tướng có 2 nguyên soái đứng đầu gọi là tướng Đốc (chánh tướng) và tướng Ngựa (phó tướng).

Mở đầu là lễ rước nước tiến hành vào khoảng 15 giờ ngày mùng 6 tháng 4. Đám rước có các tướng và quân tham dự, do phường múa hát Ải Lao dẫn đầu. Một đôi Chéo nước lớn bằng sứ được chuyển từ đền Thượng đến giếng đền Mẫu. Chéo nước đầy được rước từ đền Thượng. Ý nghĩa của nghi thức là lấy nước để rửa khí giới và nước của ông Gióng ban cho sẽ thành mưa tưới cho mùa màng thuận lợi.

Sáng mùng 7 tháng 4, vào khoảng giờ tỵ (9 – 11 giờ), lễ rước cỗ chay (cơm và cà) từ đền Mẫu đến đền Thưỡng và tế Thánh Gióng. Chiều mùng 7 tháng 4 có cuộc rước khám đường với ý nghĩa thăm dò đường đến trận địa. Ngày hôm đó, múa rối nước được tổ chức ở hồ trước đền Thượng (thường gọi là ao rối). Ngày mùng 8 tháng 4, địa diện các giáp và quan viên hàng tổng đi duyệt những tướng nữ (thường gọi là nghi thức kén tướng). Mỗi giáp được chọn một cô gái xinh đẹp nhất, khéo trang điểm nhất làm chánh tướng và một cố kém hơn làm phó tướng.

Ông Hiệu đang phất cờ
Ông Hiệu đang phất cờ

Ngày mùng 9 tháng 4  vào hội chính. Buổi sáng có lễ rước cờ từ đền Mẫu đến đền Thượng. Khi đám rước về đến đền Thượng thì pháo đốt tưng bừng. Các đội phù giá biểu dương lực lượng và làm lễ Thánh Gióng. Họ biểu diễn thuận thục và đẹp mắt, tỏ ra là một đội quân có kỷ luật và thiện chiến. Tù hàng hai chuyển thành hàng bốn, quay phải, quay trái, lùi xuống, đều tăm tắp… Đây không phải là hành động có tính chất nghi lễ thông thường mà chính là những động tác quân sự cách điệu hóa. Cuối cùng, những phù giá dùng tay phải rút từ lưng ra chiếc quạt giấy, đồng loạt vung qua đầu thành tiếng xoạt, miệng “dạ” một tiếng thật to. Đội phù giá làm thế 9 lần rồi dàn thành hai hàng trước đền thờ cúi đầu đi lùi ra, miệng “dạ” ran… tỏ ý tin tưởng và tuân thủ sự chỉ huy của đức Thánh Gióng.

Động tác làm lễ cũng hết sức đặc biệt. Lễ lạy lên gối xuống gối được tiến hành, lần lượt được bắt đầu từ ông Hiệu. Lần lượt các ông hiệu Trung Quân, Tiêu Cổ và cuối cùng là Hiệu Cờ đều làm như thế rồi về vị trí của mình.

Hội múa Ải Lao
Hội múa Ải Lao

Đến đầu giờ Ngọ (khoảng 11 giờ) phường Ải Lao diễn trò săn hổ trước đền. Trước khi vào trò vui vây bắt hổ, tất cả 20 người, bắt đầu từ ông hổ, rồi lần lượt đến hai người cầm cờ lau, người cầm cần câu, cung tên… biểu diễn những động tác múa hát theo nhịp trống, chiêng, rất đẹp mắt và điêu luyện, rồi làm lễ, xong mới vào trò vây bắt hổ. Hổ tuy dũng mãnh nhưng cuối cùng cũng bị bắt trói.

Trong khi đó, ở cuối làng Đổng Viên, trên bãi Đống Đàm cạnh hồ sen (tượng trưng cho trận địa địch), hai mươi tám nữ tướng của địch đã dàn trận. Họ ngồi trên các kiệu có lọng che, chung quanh có gia nhân chăm sóc.

Vào khoảng 13 giờ, quân thám báo chạy về đưa tin quân giặc đã đến đóng ở Đống Đàm. Ba hồi trống chiêng nổi lên dồn dập báo hiệu giờ phút nghiêm trọng đã đến. Tất cả quân, tướng chỉnh đốn hàng ngũ chờ lệnh xuất quân.

Toàn cảnh đoàn quân vô cùng uy nghi, hùng dũng, náo nhiệt trên mặt đê, kéo dài vài km. Qua đền Mẫu, đoàn quân dừng lại cúi chào mẹ Thánh Gióng.

Sau khi nhanh chóng ổn định hàng ngũ (tức dàn trận xong), vào khoảng hơn 14 giờ, trống dóng lênCô tướng - đại diện tướng giặc ba hồi, cả khu vực im phăng phắc. Trong giây phút thiêng liêng, mọi người cùng tưởng nhớ đến Thánh Gióng. Tiếng trống dứt, hiệu trung quân đến trước cờ lệnh đốt một tràng pháo ra lệnh tấn công. Hiệu Tiêu cổ đáp lại ba hồi trống con, tỏ ý quân tiên phong đã sãn sàng. Hiệu cờ tiến lên đứng ở giữa chiếu gần bàn thờ. Một vị thừa từ đến mở miếu, hiệu cờ được phất thẳng lên, ngọn cờ mở tung ra cùng với hàng trăm bướm giấy và mảnh gỗ trầm bay trước gió. Tiếng trống, tiếng chiêng, tiếng pháo lại nổi lên ở phía ta. Ông Hiệu cờ giơ thẳng cánh tay trái ra trước mặt giương lá cờ lệnh lên, mắt nhìn theo ngọn cờ, hất chân sang trái. Rồi lại chuyển cờ sang tay phải. Đồng thời dùng chân phải hất cái bát ở giữa chiếu lên, làm cho tờ giấy cuộn bay tung lên (ngụ ý sức mạnh của Gióng bạt núi dời mây), sau đó chụm chân dóng thẳng, thoăn thoắt nhảy lên hai lần, miệng hô “hây…hây…” rồi nhẹ nhàng quỳ gối phải xuống chiếu. Hiệu cờ múa tiếp như thế hai chiếu còn lại, ngụ ý cuộc chiến đấu rất gay go ác liệt. Đến khi ván cờ thứ ba kết thúc là quân ta đã thắng lợi. Các tướng lúc này cũng cho quay khăn về phía đền Thượng tỏ ý tan rã. Ba đợt phất cờ dân gian gọi là ba ván thuận. Trống, chiêng, pháo lại nổi lên cùng với sự hân hoan của quần chúng.

Sau ba hồi trống, chiêng thu quân, đám rước lại chỉnh đốn hàng ngũ và kéo quân về đền Thượng. Khi đi qua đền Mẫu, một tràng pháo nổ ran báo tin thắng trận với mẹ Thánh Gióng.

Hàng tổng mở tiệc khao quân gọi là cỗ yến. Nhưng khi tiệc mới bắt đầu lại có thám mã đưa tin cấp tốc: quân địch phản kích đã tiến đến sát Phù Đổng và bao vây quân ta. Lập tức, ba hồi trống chiêng nổi lên, quân ta rời các mâm cỗ, cầm ngay vũ khí và lại rầm rập tiến ngay ra chiến trường. Tướng Đốc và tướng Ngựa của giặc đã chiếm đóng vùng đất giữa đền Thượng và đền Mẫu gọi là bãi Soi Bia. Các tướng và quân của ta tiến thẳng tới đây, mở cuộc chiến lần thứ hai.

Trận đánh toàn thắng ở Soi Bia
Trận đánh toàn thắng ở Soi Bia

Trận địa ở Soi Bia được bố trí giống ở Đổng Đàm. Sau ba hồi trống, Hiều cờ lại tiến ra múa 3 cán cờ như lần trước, chỉ có khác là cờ được phất từ trái sang phải, ngược chiều với lần trước, dân gian gọi là ba ván nghịch. Ván thứ ba kết thúc thì hiệu trống chiêng nổi ba hồi vang rền báo tin quân ta thắng trận hoàn toàn. Tướng Đốc, tướng Ngựa của giặc bị bắt giải về, các tướng nữ khác của giặc cùng xuống kiệu đi bộ theo sau. Trước bàn thờ Gióng, hai tướng Đốc, Ngựa quỳ lạy 4 lạy và 2 vái. Vị thừa từ dùng thanh kiếm lấy được của giặc hất cái mũ và phanh cái áo ngoài của giặc, ngụ ý chém đầu lột da và thu các thứ để đưa vào nội cung trình Thánh Gióng.

Quân giặc đã bị đánh bại hoàn toàn, tiệc khao quân được tiếp tục một cách đường hoàng thoải mái. Xong việc thì trời cũng vừa tối. Đêm hôm đó có đốt pháo hoa, đốt cây bông, diễn tuồng và các trò vui khác đến quá nửa đêm mới tan dần.

Theo truyền thống , phường Ải Lao hát 12 bài trong quá trình diễn ra lễ hội: 1.Vào đền dâng lễ; 2.Chầu trước điện thần; 3.Ra khỏi đền; 4.Chầu trước đền Mẫu; 5.Hát múa cờ; 6.Hát câu cá; 7.Hát săn hổ; 8.Hát vây hổ; 9.Hát bắt hổ; 10.Hát sau khi bắt được hổ; 11.Hát rước trận; 12.Hát về đền sau khi thắng trận. Tuy nhiên theo thời gian, lời bài hát có nhiều biến đổi và nhiều bài không còn giữ được nghĩa gốc nữa.

Ngày mùng 10 tháng 4 âm lịch có lễ rước văn để duyệt quân và kiểm tra khi giới và lễ tạ ơn Thánh Gióng. Ngày 11 tháng 4 âm lịch lế rửa tội được tổ chức, tức là rước nước về đền để rửa đồ đạc, khí giới. Các trò chơi, múa hát được tiếp tục. Ngày 12 tháng 4 có rước cắm cờ, quân ta đi kiểm soát lại chiến trường từ Đổng Đàm đến Soi Bia, xem có tên giặc nào còn sót hay không. Soát đến đâu cắm cờ trắng đến đấy, ngụ ý quân giặc đã bị quét sạch. Buổi chiều có cuộc tế báo thắng trận với trời đất và rã đám.

Diễn biến của hội Gióng ngày xưa đại thể là như vậy, là một tưởng niệm lịch sử – văn hóa – huyền thoại đan xen và vì thế tính tượng trưng, cách điệu cao, được nhiều thế hệ thưởng thức.

You May Also Like

About the Author: admin

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *